Tình hình đăng ký doanh nghiệp 5 tháng đầu năm 2018

Tình hình đăng ký doanh nghiệp 5 tháng đầu năm 2018 theo biểu đồ dưới đây cho thấy, trong tháng 5/2018, số doanh nghiệp đăng ký mới giảm về số lượng so với tháng 4/2018, tuy nhiên, nếu so với các tháng của quý I/2018 và tháng cùng kỳ năm trước thì số doanh nghiệp thành lập mới tăng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2018, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới cũng tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.  

Biểu đồ. Tình hình đăng ký doanh nghiệp trong các tháng đầu năm 2018

Về số vốn đăng ký trong 5 tháng đầu năm, tổng số vốn đăng ký vào nền kinh tế là 1.419.065 tỷ đồng tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 516.859 tỷ đồng tăng 6,4% và số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn là 902.206 tỷ đồng tăng 26,9% với17.244 lượt doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn tăng 17%. 

Trong lĩnh vực ngành, 5 tháng đầu năm 2018 tình hình doanh nghiệp tại tất cả các ngành còn nhiều biến động diễn ra khi các chỉ tiêu phát triển doanh nghiệp liên lục tăng hoặc giảm.

Về tình hình phát triển doanh nghiệp tại các vùng của cả nước trong 5 tháng đầu năm cho thấy, vùng Tây Nguyên có các chỉ tiêu phát triển doanh nghiệp tốt nhất so các vùng còn lại, cụ thể: số doanh nghiệp thành lập mới, doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng; doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể và doanh nghiệp giải thể giảm. Các vùng còn lại còn nhiều biến động về tình hình phát triển doanh nghiệp khi bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới tăng thì các chỉ tiêu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể và doanh nghiệp giải thể cũng tăng.

I. Về tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 5 năm 2018    

Trong tháng 5 năm 2018, số doanh nghiệp được thành lập mới là 11.027 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 104.831 tỷ đồng, giảm 24,0% về số doanh nghiệp và giảm 21,5% về số vốn đăng ký so với tháng 4 năm 2018. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong tháng 5 đạt 9,5 tỷ đồng, tăng 3,3% so với tháng trước. Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 5 là 80.524 lao động, giảm 24,5% so với tháng trước.  

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng 5 trên cả nước là 2.306 doanh nghiệp, giảm 29,7% so với tháng 4 năm 2018.

    Biểu đồ 1. So sánh tình hình đăng ký doanh nghiệp

So sánh tình hình đăng ký doanh nghiệp của tháng 5 với tháng 4/2018 tại biểu đồ 1 cho thấy, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 2.043 doanh nghiệp, giảm 6,8%; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể là 4.812 doanh nghiệp, tăng 21,9% và số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 834 doanh nghiệp, giảm 39,5%.

II. Về tình hình đăng ký doanh nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2018               

1. Tình hình doanh nghiệp thành lập mới trong 5 tháng đầu năm 2018

– Về tình hình chung:     

Trong 5 tháng đầu năm, cả nước có 52.322 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 516.859 tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 6,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2018 đạt 9,9 tỷ đồng, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 5 tháng đầu năm nay là 412.612 lao động, giảm 20,9% so với cùng kỳ năm ngoái.           

– Theo quy mô vốn:

Bảng 1. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

Số liệu thống kê tại Bảng 1 cho thấy trong 5 tháng đầu năm 2018 tất cả các quy mô vốn đăng ký đều có tỷ lệ doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: quy mô vốn đăng ký từ 50-100 tỷ đồng có tỷ lệ tăng lớn nhất là 18,4%; tiếp đến là từ 10-20 tỷ đồng tăng 6,7%;…quy mô vốn đăng ký từ 0-10 tỷ đồng tăng 3,1% thấp nhất. Mặc dù, có tỷ lệ tăng thấp so với các quy mô vốn đăng ký khác nhưng quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng lại có số lượng đăng ký nhiều nhất là 46.999 doanh nghiệp chiếm 89,8% trên tổng số doanh nghiệp đăng ký mới.        

– Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 2. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn và lao động theo vùng lãnh thổ

Tình hình doanh nghiệp thành lập mới trong 5 tháng đầu năm 2018 phân theo vùng lãnh thổ tại Bảng 2 cho thấy, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ở các vùng trong cả nước đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái, đặc biệt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có mức tăng cao nhất; xét về số vốn đăng ký thành lập mới, cả nước có ba vùng là Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung tăng về số vốn; về số lượng lao động đăng ký giảm ở tất cả các vùng, trong đó Trung du và miền núi phía Bắc có mức giảm mạnh nhất.

So sánh số lượng doanh nghiệp giữa các vùng cho thấy, vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao nhất là 22.075 doanh nghiệp, chiếm 42,2% tổng số doanh nghiệp thành lập của cả nước; tiếp đó là vùng Đồng bằng Sông Hồng có 15.551 doanh nghiệp, chiếm 29,7% tổng số doanh nghiệp thành lập của cả nước;… đây là 2 trung tâm kinh tế lớn của cả nước khi chiếm tới 71,9% tổng số doanh nghiệp cả nước. Vùng Tây Nguyên có lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường thấp nhất so với các vùng khác với 1.301 doanh nghiệp, chiếm 2,5% trên tổng số doanh nghiệp.    

Về số vốn đăng ký, vùng Đông Nam Bộ tiếp tục dẫn đầu trong cả nước với 235.161 tỷ đồng, chiếm 45,5% tổng số vốn đăng ký của cả nước;

Đứng thứ hai là vùng Đồng bằng Sông Hồng có 148.473 tỷ đồng, chiếm 28,7%tổng số vốn đăng ký của cả nước; Vùng Tây Nguyên có tổng số vốn đăng ký thấp nhất là 8.337 tỷ đồng, chiếm 1,6% tổng số vốn đăng ký của cả nước.

Xét về quy mô vốn đăng ký, trong 5 tháng đầu năm, tỷ trọng vốn đăng ký bình quân của vùng Đông Nam Bộ đạt 10,7 tỷ đồng/doanh nghiệp; Đồng bằng Sông Cửu Long đạt 9,7 tỷ đồng/doanh nghiệp; Đồng bằng Sông Hồng đạt 9,5 tỷ đồng/doanh nghiệp;… Có thể thấy mặc dù vùng Đồng bằng Sông Hồng có tổng số vốn đăng ký cao gần gấp 4 lần của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng xét về tỷ lệ bình quân vốn trên doanh nghiệp thì vùngĐồng bằng Sông Cửu Long đạt cao hơn. Vùng Tây Nguyên có tỷ lệ thấp nhất đạt 6,4 tỷ đồng/doanh nghiệp.   

Về số lao động đăng ký, qua thống kê cho thấy tập trung nhiều nhất ở vùng Đồng bằng Sông Hồng với 139.447 lao động, chiếm 33,8% tổng số lao động đăng ký;

Vùng Tây Nguyên có 9.067 lao động đăng ký là vùng có số lao động đăng ký ít nhất so với các vùng còn lại, chiếm 2,2% tổng số lao động đăng ký.

Về quy mô lao động đăng ký bình quân trên 1 doanh nghiệp, trong 5 tháng đầu năm nay, vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt cao nhất là 13,1 lao động/doanh nghiệp; tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đạt 11,0 lao động/doanh nghiệp. Vùng Đồng bằng Sông Hồng đạt 9,0 lao động/doanh nghiệp và Đông Nam Bộ đạt 5,7 lao động/doanh nghiệp là 2 trung tâm kinh tế lớn của cả nước nhưng xét quy mô lao động trên doanh nghiệp chỉ xếp thứ 4 và thứ 6 trong tất cả các vùng trong cả nước.    

– Theo lĩnh vực hoạt động:

Bảng 3. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn và lao động theo lĩnh vực hoạt động

Bảng 3 cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2018 số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ ở 12/17 ngành, 5 ngành còn lại có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so cùng kỳ, gồm: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (-16%), Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (-13,9%), Vận tải kho bãi (-10,2%), Khai khoáng (-8,1%), Công nghiệp chế biến, chế tạo (-4,5%).

Số lượng doanh nghiệp thành lập mới vẫn tập trung chủ yếu ở một số ngành nghề như: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa, ô tô, xe máy có 17.761 doanh nghiệp, chiếm 33,9% tổng số doanh nghiệp thành lập; Xây dựng có 7.126 doanh nghiệp, chiếm 13,6% tổng số thành lập doanh nghiệp; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 6.463 doanh nghiệp, chiếm 12,4% tổng số doanh nghiệp;…

Đánh giá hai tiêu chí về số lượng và tốc độ gia tăng doanh nghiệp theo lĩnh vực hoạt động cho thấy trong 12/17 ngành có sự gia tăng doanh nghiệp thì ngành Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có số lượng doanh nghiệp đăng ký nhiều nhất nhưng xét về tỷ lệ gia tăng doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2017 thì ngành Kinh doanh bất động sản có tỷ lệ cao nhất là 41,1%. 

Xét về số vốn đăng ký tại các ngành nghề, ngành Kinh doanh

Ngành nghề, ngành Kinh doanh bất động sản có số vốn đăng ký mới nhiều nhất là 149.434 tỷ đồng, chiếm 28,9% trên tổng số vốn đăng ký; tiếp đến là Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 81.276 tỷ đồng, chiếm 15,7%trên tổng số; Xây dựng có 74.285 tỷ đồng, chiếm 14,4% trên tổng số;… Có 5/17 ngành nghề có số vốn đăng ký trong 5 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước.

Về tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên 1 doanh nghiệp, trong 5 tháng đầu năm nay một số ngành có tỷ trọng cao như Sản xuất phân phối điện, nước, ga đạt 66,5 tỷ đồng/doanh nghiệp; Kinh doanh bất động sản đạt 57,0 tỷ đồng/doanh nghiệp; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 17,5 tỷ đồng/doanh nghiệp; Khai khoáng đạt 16,0 tỷ đồng/doanh nghiệp.

Về số lao động đăng ký tại các ngành, cho thấy ngành thu hút nhiều số lao động gia nhập thị trường

Gồm có: Công nghiệp chế biến, chế tạo có 132.488 lao động, chiếm 32,1% trên tổng số lao động đăng ký; Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 95.689 lao động, chiếm 23,2%trên tổng số; Xây dựng có 47.497 lao động, chiếm 11,5% trên tổng số;…

Một số ngành có tỷ trọng lao động bình quân trên 1 doanh nghiệp cao, gồm có: ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đang là ngành chiếm tỷ trọng lao động cao nhất trong các ngành kinh tế với 20,5 lao động/doanh nghiệp; tiếp đó là Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là 12,7 lao động/doanh nghiệp; ngành Sản xuất phân phối điện, nước, ga là 11,4 lao động/doanh nghiệp; Khai khoáng là 10,5 lao động/doanh nghiệp;… Xét về số lao động đăng ký và tỷ trọng lao động thì ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm ưu thế hơn các ngành còn lại về số lao động đăng ký nhưng xét về tỷ lệ gia tăng lao động so với cùng kỳ năm 2017 thì ngành này lại giảm.

2. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 5 tháng đầu năm 2018

– Về tình hình chung:  

Trong 5 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 13.267 doanh nghiệp, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước.   

– Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 4. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo vùng lãnh thổ

Theo số liệu tại Bảng 4 cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2018 vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động nhiều nhất là 5.227 doanh nghiệp, chiếm 39,4% trên tổng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; tiếp đến đứng thứ hai là vùng Đồng bằng Sông Hồng có 3.876 doanh nghiệp, chiếm 29,2% trên tổng số doanh nghiệp; vùng Tây Nguyên có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động thấp nhất là 455 doanh nghiệp, chiếm 3,4%trên tổng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.

Cũng trong 5 tháng đầu năm, so với cùng kỳ năm 2017 cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm ở 4/6 vùng của cả nước; chỉ có vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ là có mức gia tăng với tỷ lệ lần lượt là 8,6% và 1,0%.  

– Theo lĩnh vực hoạt động:

Bảng 5. Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động tháng 5 năm 2018

Thống kê số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 5 tháng đầu năm 2018 phân theo lĩnh vực cho thấy, lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động chủ yếu tập trung ở các ngành như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 4.890 doanh nghiệp, chiếm 36,9% trên tổng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; Xây dựng có 2.007 doanh nghiệp, chiếm 15,1% trên tổng số doanh nghiệp; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.797 doanh nghiệp, chiếm 13,5% trên tổng số doanh nghiệp.     

Khi so với cùng kỳ năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, trong 5 tháng đầu năm tại một số ngành giảm, cụ thể: Hoạt động dịch vụ khác có 188 doanh nghiệp, giảm 15,3%; Khai khoáng có 133 doanh nghiệp, giảm 13,1%;… Một số ngành có tỷ lệ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái như Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (38,7%), Kinh doanh bất động sản (27,8%).      

3. Tình hình doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 5 tháng đầu năm 2018   

– Về tình hình chung:  

Trong 5 tháng đầu năm, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn của cả nước là 15.974 doanh nghiệp, tăng 24,0% so với cùng kỳ năm 2017.

– Theo quy mô vốn:

Bảng 6. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo quy mô vốn (Đơn vị: DN) 

Theo số liệu thống kê tại Bảng 6, trong 5 tháng qua các quy mô vốn đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có tỷ lệ tăng lớn nhất là 76,9% với 69 doanh nghiệp; tiếp đến là từ 10-20 tỷ đồng có 576 doanh nghiệp, tăng 41,9%; từ 50-100 tỷ đồng có 101 doanh nghiệp, tăng 32,9%; từ 0-10 tỷ đồng có 14.952 doanh nghiệp, tăng 23,3% và từ 20-50 tỷ đồng có 276 doanh nghiệp, tăng 15,5%.

– Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 7. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

Trong 5 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tập trung; phần lớn ở vùng Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ; cả hai chiếm tỷ trọng 64,9% so với cả nước. Vùng Tây Nguyên có lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ít nhất; so với các vùng khác, chiếm 3,8% trên tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh.

Về tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 5 tháng đầu năm; cho thấy tăng ở tất cả các vùng so với cùng kỳ năm 2017; trong đó các vùng có mức tăng cao là: vùng Trung du và miền núi phía Bắc; có tỷ lệ tạm ngừng kinh doanh lớn nhất là 37,0%; Đồng bằng Sông Hồng tăng 29,6%; Bắc Trung Bộ tăng 29,4%.

– Theo lĩnh vực hoạt động:

Bảng 8. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh theo lĩnh vực hoạt động

Trong 5 tháng đầu năm 2018, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 6.249 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 39,1% trên tổng số; Xây dựng có 2.445 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 15,3%trên tổng số; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.986 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 12,4% trên tổng số;… Về tỷ lệ tăng/giảm so với cùng kỳ 2017; thì chỉ có duy nhất ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là có tỷ lệ giảm (7,4%); tất cả các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; tăng so với cùng kỳ năm ngoái.

4. Tình hình doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký; hoặc chờ giải thể trong 5 tháng đầu năm 2018

– Về tình hình chung:  

Về tình hình doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; không đăng ký hoặc chờ giải thể trong 5 tháng đầu năm; cho thấy cả nước có 17.425 doanh nghiệp, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm ngoái.  

– Theo quy mô vốn:

Bảng 9. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo quy mô vốn (Đơn vị: DN) 

doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động đăng ký doanh nghiệp 5 tháng đầu 2018

Theo số liệu thống kê tại Bảng 9, trong 5 tháng đầu năm; chỉ có hai quy mô vốn là từ 50-100 tỷ đồng; và từ 10-20 tỷ đồng có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Các quy mô vốn đăng ký còn lại có tỷ lệ giảm so với cùng kỳ năm 2017; gồm: quy mô vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng có tỷ lệ giảm lớn nhất là 25,6%; tiếp đó là từ 0-10 tỷ đồng giảm 10,2% và từ 20-50 tỷ đồng giảm 9,0%.        

– Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 10. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo vùng lãnh thổ (Đơn vị: DN)

tình hình vùng lãnh thổ đăng ký doanh nghiệp 5 tháng đầu 2018

Qua số liệu thống kê cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2018; số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập; trung phần lớn ở vùng Đồng bằng Sông Hồng (7.201 doanh nghiệp); chiếm 23,7% và vùng Đông Nam Bộ (5.906 doanh nghiệp); chiếm 37,7% so với tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động của cả nước.  

Về tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; so với cùng kỳ năm ngoái có tăng ở vùng Bắc Trung Bộ; và duyên hải miền Trung (26,3%) và vùng Đồng bằng Sông Hồng (8,7%). Các vùng còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; giảm so với cùng kỳ năm 2017.     

– Theo lĩnh vực hoạt động:

Bảng 11. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động (Đơn vị: DN)

tình hình đăng ký doanh nghiệp 5 tháng đầu 2018

Về số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tại các ngành, cho thấy ngành Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động lớn nhất; chiếm 35,3% trên tổng số; tiếp đến là ngành Xây dựng chiếm 13,6% và ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,0%trên tổng số.

Về tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 5 tháng đầu năm 2018; so với cùng kỳ năm ngoái giảm ở một số ngành, cụ thể: ngành Bán buôn; bán lẻ; sữa chữa ô tô, xe máy giảm 25,7%; Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác giảm 9,1%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 7,7%;… Các ngành còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; tăng so với cùng kỳ năm 2017. 

5. Tình hình doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 5 tháng đầu năm 2018

– Về tình hình chung:     

Về số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể; trong 5 tháng đầu năm 2018 của cả nước là 5.533; doanh nghiệp tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2017.    

– Theo quy mô vốn:    

Bảng 12. Số doanh nghiệp giải thể theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)

doanh nghiệp giải thể theo quy mô vốn

Thống kê theo quy mô vốn cho thấy trong 5 tháng đầu năm; thì quy mô vốn đăng ký từ 20-50 tỷ đồng là có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể; không tăng cũng không giảm so với cùng kỳ năm 2017. Các quy mô vốn còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng; so với cùng kỳ năm ngoái. Về số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký nhỏ; dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,5% trên tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước.   

– Theo vùng lãnh thổ:

Bảng 13. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo vùng lãnh thổ

đăng ký doanh nghiệp 5 tháng đầu 2018

Trong 5 tháng đầu năm, tại các vùng trong cả nước; thì vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp giải thể lớn nhất; chiếm 37,7% trên tổng số doanh nghiệp giải thể; tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông Hồng có 1.312 doanh nghiệp; chiếm 23,7% trên tổng số doanh nghiệp giải thể.

Về tỷ lệ doanh nghiệp giải thể trong 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2017; thì chỉ có 02 vùng là Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ giảm; các vùng khác đều có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng. Xét hai tiêu chí giải thể gồm số lượng và tỷ lệ tăng/giảm so cùng kỳ thì về số lượng; vùng Đông Nam Bộ có số doanh nghiệp giải thể nhiều nhất; nhưng xét về tỷ lệ gia tăng doanh nghiệp giải thể so với cùng kỳ năm ngoái; thì vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ tăng mạnh nhất so với các vùng khác.    

– Theo lĩnh vực hoạt động:          

Bảng 14. Tình hình doanh nghiệp giải thể theo lĩnh vực hoạt động

Tình hình doanh nghiệp giải thể theo lĩnh vực hoạt động tháng 5 năm 2018

Số liệu tại Bảng 14 cho thấy, doanh nghiệp giải thể; tập trung chủ yếu ở những ngành kinh tế như: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 2.127 doanh nghiệp, chiếm 38,4%; Công nghiệp chế biến, chế tạo có 779 doanh nghiệp, chiếm 14,1%; Xây dựng có 599 doanh nghiệp, chiếm 10,8%. 

Về tỷ lệ doanh nghiệp giải thể trong 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2017; thì các ngành có tỷ lệ giảm gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản giảm 34,8%; Khai khoáng giảm 29,7%; Vận tải kho bãi giảm 4,6%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 1,2%. Các ngành, nghề còn lại đều có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm 2017.

Đánh giá chất lượng bài viết, bạn nhé!

chọn đánh giá của bạn

Đánh giá chất lượng bài viết, bạn nhé!

5.0

Hãy để lại câu hỏi của bạn bên dưới, chúng tôi sẽ trả lời TRONG 15 PHÚT

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top