Luật kinh tế Việt Nam 01 – trả lời câu hỏi EL19

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔN LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM 1

Trong hệ thống pháp luật của bất cứ một quốc gia nào, Luật Kinh tế đều chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, Luật Kinh tế là ngành luật điều chỉnh và các quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể kinh tế với nhau hoặc giữa các chủ thể kinh tế với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế.

Lĩnh vực Luật Kinh tế vừa nhằm bảo vệ các lợi ích công, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước – vốn dĩ là đối tượng điều chỉnh của ngành luật công, vừa đảm bảo tính công bằng trong thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc với người tiêu dùng – những công dân trong xã hội – vốn dĩ là đối tượng điều chỉnh của ngành luật tư.

Trong môn học Luật Kinh tế Việt Nam 1 này, các vấn đề mà chúng ta nghiên cứu là những vấn đề mang tính nguyên lý cơ bản và nền tảng của pháp luật Kinh tế, cụ thể:

  • Khái quát chung về Luật Kinh tế Việt Nam;
  • Pháp luật về Doanh nghiệp Tư nhân;
  • Pháp luật về Công ty Hợp Danh;
  • Pháp luật về Công ty Cổ phần;
  • Pháp luật về Công ty Trách nhiệm hữu hạn;
  • Pháp luật về Hợp Tác xã.

BÀI 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT KINH TẾ

Trong bài học này, chúng ta có ba phần:

  1. Pháp luật Kinh tế trong nền kinh tế thị trường;
  2. Nội dung chính của Pháp luật Kinh tế;
  3. Nguồn của Luật Kinh tế;

Đây là những vấn đề mang tính lý luận mà khi nghiên cứu tìm hiểu bất cứ một ngành luật nào thì người học cũng cần phải nắm bắt được. Có thể nói rằng, pháp luật thực định có thể sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo thời gian nhưng những nội dung kiến thức có tính lý luận trong phần này hầu như sẽ không có sự thay đổi.

Sau khi học xong phần này, các Anh/Chị sẽ hiểu được khái niệm đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế với tư cách là một hệ thống ngành luật, được hiểu về mối quan hệ và sự khác biệt giữa đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế với đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác.

1. PHÁP LUẬT KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trong thời đại ngày nay, Nhà nước nào cũng có chức năng và vai trò kinh tế, chức năng điều tiết, định hướng, và quản lý các hoạt động kinh tế.

Để thực hiện chức năng đó, Nhà nước ban hành hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó

Trước thế kỷ XX, với tư tưởng tự do hóa kinh tế, chưa có quan niệm về LKT, học thuyết « Bàn tay vô hình » của A. Smith là công cụ duy nhất để điều tiết sự vận động và phát triển của nền kinh tế, Nhà nước không gây ảnh hưởng tới nền kinh tế

Tuy nhiên, với nền Kinh tế thị trường, các quy luật của nền kinh tế thị trường như: Cạnh tranh ; Cung cầu ; Giá cả đã gây lên những tác động mà Nhà nước không thể đứng ngoài được nữa.

Để khắc phục những khuyết tật của thị trường, bảo vệ tự do cạnh tranh, quyền lực Nhà nước được áp dụng để điều tiết, do đó LKT khởi sinh nhằm giải quyết yêu cầu này.

Theo quan niệm truyền thống nhiều nước XHCN trước đây, luật Kinh tế được coi là ngành luật độc lập, điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý, lãnh đạo kinh tế của nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở xã hội chủ nghĩa

Trong mô hình kinh tế thị trường đòi hỏi phải xóa bỏ độc tôn của một hình thức sở hữu, đòi hỏi phải khuyến khích và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với sự bình đẳng trước pháp luật.

Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có môi trường pháp lý đảm bảo tất cả các chủ thể sản xuất – kinh doanh được tự do kinh doanh.

Như vậy, hiểu theo cách chung nhất, theo nghĩa rộng thì « Luật kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật mà với các quy phạm đó, nhà nước tác động vào các tác nhân tham gia đời sống kinh tế và các quy phạm liên quan đến mối tương quan giữa sự tự do của từng cá nhân và sự điều chỉnh của Nhà nước »

Theo nghĩa hẹp: Pháp luật Kinh tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh trên cơ sở trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

Trong giới hạn của môn học này, chúng ta chỉ nghiên cứu pháp luật kinh tế theo nghĩa hẹp và liên quan chặt chẽ với quyền tự do kinh doanh.

1.1.    Kinh doanh và quyền tự do kinh doanh

Khái niệm kinh doanh

Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế. Kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu.

Khái niệm: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. (Điều 4, LDN 2014)

Với khái niệm trên, kinh doanh đã được hiểu một cách đầy đủ bao gồm tất cả các hoạt động như: Đầu tư, sản xuất, trao đổi, dịch vụ nếu các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi.

Đặc trưng: Khái niệm kinh doanh có những dấu hiệu đặc trưng sau:

  • Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp: Trong xã hội đã có những người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, họ sống bằng nghề kinh doanh. Kinh doanh mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định và lâu dài.
  • Kinh doanh là hành vi diễn ra trên thị trường.
    • Hoạt động kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh với nhau, với xã hội nói chung thông qua các quan hệ mua bán, trao đổi,
  • Những quan hệ này phản ánh quan hệ hàng hóa – tiền tệ.
  • Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận.
    • Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt hoạt động kinh doanh với các hoạt động khác.
    • Khi xác định mục đích sinh lời trong hoạt động kinh doanh cần hiểu ý định thu lợi nhuận của hoạt động mới là tiêu chí quyết định, còn việc có đạt được lợi nhuận hay không cũng như việc sử dụng lợi nhuận đạt được cho mục đích gì không phải là dấu hiệu quyết định.
    • Mục đích lợi nhuận là mục đích suy đoán
Quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh thể hiện 2 khía cạnh:

  1. Thứ 1, nhìn nhận 1 cách chủ quan có thể hiểu đó là khả năng hành động 1 cách có ý thức của con người trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo nghĩa này, quyền tự do kinh doanh bao gồm các khả năng như: tự do đầu tư tiền vốn để thành lập doanh nghiệp; tự do lựa chọn mô hình kinh doanh; tự do lựa chọn nghành nghề kinh doanh; tự do lựa chọn đối tác; tự do cạnh tranh; tự do trong các lĩnh vực khác của hoạt động kinh doanh.
  2. Thứ 2, theo nghĩa khách quan, nó là 2 chế định pháp luật trong đó bao hàm hệ thống các quy phạm pháp luật và những đảm bảo pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho công dân thực hiện được những khả năng nói trên.

Nội dung của quyền tự do kinh doanh

  • Thứ nhất, quyền tự do sở hữu (quan hệ sở hữu là quan hệ nền tảng của các quan hệ kinh tế)

Sở hữu là hình thức xã hội của việc chiếm hữu. Nó phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người về việc chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội mà đầu tiên là tư liệu sản xuất. Các hình thức sở hữu được pháp luật ghi nhận trở thành chế độ sở hữu – vấn đề quan trọng nhất của một chế độ kinh tế xã hội.

Đối với quyền tự do kinh doanh thì quyền sở hữu tài sản giữ vị trí vai trò quan trọng nhất, nó được coi là nền tảng, tiền đề cho việc hình thành và thực hiện quyền tự do kinh doanh. Chỉ khi được sở hữu tài sản người ta mới có thể dùng tài sản đó đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Không ai có thể thành lập doanh nghiệp nếu không có trong tay những tư liệu sản xuất, số vốn nhất định. Và cũng không ai có thể mua bán, trao đổi hàng hoá nếu không xác định được sở hữu của người bán đối với hàng hoá là đối tượng của hợp đồng.

  • Thứ hai, quyền tự do đầu tư thành lập doanh nghiệp bao hàm cả quyền tự do lựa chọn nghành nghề, mô hình kinh doanh, địa điểm kinh doanh.

Đây là nội dung cơ bản, quan trọng trong hệ thống các quyền tự do kinh doanh. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp là cơ sở để thể nhân, pháp nhân được nhà nước công nhận là chủ thể kinh doanh hợp pháp, là tiền đề để họ tiến hành các hoạt động kinh doanh khác. Với quyền tự do thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tư có khả năng quyết định lựa chọn mô hình, lĩnh vực, ngành nghề, địa điểm kinh doanh thích hợp để tiến hành hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao.

  • Thứ ba, tự do hợp đồng.

Hợp đồng là hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ kinh doanh. Mọi hành vi kinh doanh như: Góp vốn thành lập doanh nghiệp, sử dụng lao động, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng, liên doanh, liên kết, vay vốn, trao đổi hàng hoá, thực hiện dịch vụ, … đều thông qua hợp đồng. Do vậy, quyền tự do hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nhà kinh doanh.

Quyền tự do hợp đồng bao gồm: Tự do giao kết hợp đồng, tự do lựa chọn đối tác, tự do thoả thuận những nội dung của hợp đồng, tự do thoả thuận để thay đổi đình chỉ hay huỷ bỏ hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng.

  • Thứ tư, tự do cạnh tranh – pháp luật cạnh tranh được coi là hiến pháp của thị trường.

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường. Nó có vai trò quan trọng, không những với tư cách là động lực của sự phát triển, mà còn với tư cách là yếu tố then chốt làm lành mạnh các quan hệ kinh doanh.

Lợi nhuận thúc đẩy các nhà kinh doanh thì cạnh tranh buộc họ phải điều hành hoạt động kinh doanh, họ phải sử dụng các nguồn lực có hiệu quả nhất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển sự nghiệp kinh doanh của mình.

Với ý nghĩa đó, cạnh tranh cần được pháp luật bảo hộ với tư cách là quyền của các nhà kinh doanh và trở thành nội dung không thể thiếu của quyền tự do kinh doanh.

  • Thứ năm, tự do định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh.

Hoạt động kinh doanh luôn luôn tiềm ẩn phát sinh các tranh chấp. Việc nhanh chóng loại bỏ chúng bằng những hình thức phù hợp, bảo đảm quyền lợi của các bên tranh chấp, sự an toàn của môi trường kinh doanh là một quyền tự nhiên, chính đáng của các chủ thể kinh doanh.

Quyền tự do lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là một bộ phận trong tổng thể quyền tự do kinh doanh. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên có quyền quyết định đưa vụ tranh chấp đó ra cơ quan có thẩm quyền để giải quyết hay không cũng như lựa chọn cơ quan nào và giải quyết theo thủ tục nào.

1.2    Chủ thể của Luật Kinh tế

Trước đây LKT chỉ thừa nhận những pháp nhân là chủ thể của ngành luật này. Thực tiễn trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường đã chứng minh những thiếu sót cua quản điểm đó. Hiện nay, chủ thể của Luật kinh tế được xác định bởi những tiêu chí sau :

  • Chủ thể của LKT trước hết là một doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý kinh tế được thành lập hợp pháp. Chúng có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực và phạm vi hoạt động rõ ràng, được tổ chức dưới hình thức nhất định thường được pháp luật quy định.
  • Dấu hiệu tiếp theo của chủ thể luật kinh tế là tài sản. Tài sản là cơ sở vật chất không thể thiếu được, được các chủ thể sử dụng phụ thuộc vào tính chất của quyền sở hữu.
  • Sự xuất hiện đồng thời năng lực pháp lý và năng lực hành vi – thể hiện chủ yếu trong hệ thống các quyền và nghĩa vụ của chúng.

Như vậy, Luật Kinh tế có hai loại chủ thể chủ yếu

Một là: Các DN thuộc mọi hình thức sở hữu và phương thức tổ chức kinh doanh – Các chủ thể kinh doanh. Sẽ được nghiên cứu chủ yếu ở các bài học trong môn học Luật Kinh tế Việt Nam 1.

Hai là: Các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế.

Trong chương trình môn học, chúng ta sẽ nghiên cứu nhóm đối tượng chủ yếu là các chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp. Còn nhóm đối tượng là các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta chỉ tìm hiểu các chức năng quản lý Nhà nước của những cơ quan này đối với lĩnh vực kinh tế.

1.3    Đối tượng điều chỉnh

Luật Kinh tế có đối tượng điều chỉnh chủ yếu là:

(i) Các QHXH diễn ra trong quá trình hình thành, tổ chức quản lý doanh nghiệp, bao gồm giải thể và phá sản DN (Pháp luật DN).

(iii) Các QHXH diễn ra trong quá trình tổ chức và thực hiện các giao dịch kinh tế (Pháp luật hợp đồng trong kinh doanh).

(ii) Các QH và các hành vi vì mục đích cạnh tranh trên thị trường, bao gồm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền (Pháp luật cạnh tranh).

(iv) Các quan hệ xã hội diễn ra trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế thông qua trọng tài thương mại và tòa án (Pháp luật tài phán kinh tế).

1.4    Phương pháp điều chỉnh

LKT là ngành luật nằm giữa Luật công và Luật tư do đó có những phương pháp điều chỉnh đặc thù:

  • Phương pháp điều chỉnh của Luật công: Hành chính, mệnh lệnh, quyền uy

– Giữa cơ quan quản lý kinh tế với các chủ thể kinh doanh.

  • Phương pháp điều chỉnh của luật tư: Tự do, bình đẳng, thỏa thuận – Điều chỉnh các quan hệ Kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh với nhau (Về hợp đồng, mua bán, cung ứng dịch vụ).

2. NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT KINH TẾ

Như phân tích ở mục trên, trong giới hạn của môn học này, chúng ta chỉ nghiên cứu pháp luật kinh tế theo nghĩa hẹp và liên quan chặt chẽ với quyền tự do kinh doanh.

Nói cách khác, pháp luật kinh tế mà chúng ta xem xét sẽ xoay quanh những vấn đề thường thấy của một doanh nghiệp trong thời gian tồn tại của nó: Từ khi khởi sự thành lập doanh nghiệp, đến khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và cuối cùng là, khi rút lui khỏi thị trường (giải thể, phá sản).

Với giới hạn nghiên cứu như vậy, những nội dung chính của pháp luật kinh tế có thể bao gồm:

  • Pháp luật về doanh nghiệp
  • Điều chỉnh nhóm quan hệ về địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, tạo khung pháp lý cho các hoạt động kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp cụ thể.
  • Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh
  • Hợp đồng là hình thức pháp lý của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều được thể hiện dưới hình thức là các hợp đồng.
  • Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
  • Điều chỉnh nhóm quan hệ liên quan đến các hoạt động tài phán kinh tế, đến tổ chức và hoạt động của một hệ thống đa dạng các cơ quan tài phán kinh tế và thủ tục giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp.
  • Pháp luật về phá sản, giải thế doanh nghiệp:
  • Điều chỉnh nhóm quan hệ pháp lý liên quan tới sự rút lui khỏi thương trường của các doanh nghiệp.

3. NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT KINH TẾ

Nếu xem pháp luật là tất cả những chuẩn mực hành vi của con người được nhà nước thừa nhận và cưỡng chế thi hành, thì nguồn của pháp luật, trong đó có pháp luật kinh tế, không chỉ bao gồm luật thành văn, mà còn bao gồm một trật tự vô hình của những quy tắc bất thành văn.

Như vậy, nguồn của pháp luật kinh tế là tổng hợp tất cả các văn bản pháp luật và các hình thức khác chứa đựng những quy phạm liên quan đến ngành Luật kinh tế.

Nguồn của pháp luật kinh tế ở nước ta bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật; Điều ước Quốc tế về Thương mại và tập quán thương mại.

3.1    Văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật: Là sản phẩm của quá trình sáng tạo pháp luật, là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự và dưới hình thức nhất định.

Văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống và việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó.

Ở Việt Nam, hình thức văn bản quy phạm pháp luật là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.

Các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Văn bản luật và văn bản dưới luật.

  • Các văn bản luật: Là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành.
  • Văn bản dưới luật: Là các văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan nhà nước khác ban hành để giải thích Hiến pháp và các đạo luật của Quốc hội.

Hiện nay, trong thực tiễn Việt Nam, nguồn văn bản chính yếu điều chỉnh hoạt động kinh doanh của các chủ thể lại là các văn bản dưới luật chứ không phải là Hiến pháp và các bộ luật. Chính điều này đã làm giảm tính minh bạch và độ tin cậy cũng như tính dự báo trước được của pháp luật kinh tế Việt Nam.

Cụ thể, trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, những Luật, Nghị định sau chủ yếu được áp dụng trong ngành luật Kinh tế :

  • Hiến Pháp
  • Bộ Luật Dân sự
  • Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành
  • Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành
  • Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành
  • Luật Hợp Tác xã và các văn bản hướng dẫn thi hành
  • Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành
  • Luật Trọng tài Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành
  • Luật Phá sản và các văn bản hướng dẫn thi hành

3.2 Điều ước quốc tế về Thương mại

Điều ước quốc tế là sự thoả thuận giữa các chủ thể của công pháp quốc tế (chủ yếu là các quốc gia) trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm thiết lập nguyên tắc pháp lí bắt buộc, là cơ sở cho hoạt động thương mại.

Điều ước quốc tế có thể chia ra hai loại: (i) các điều ước có tính chất chỉ đạo, quy định những nguyên tắc chung về hoạt động thương mại giữa các quốc gia tham gia kí kết, ví dụ: Hiệp định thương mại hàng hải, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ; (ii) các điều ước điều chỉnh trực tiếp các quan hệ thương mại cụ thể, ví dụ: Công ước Viên (1980) về mua bán hàng hoá quốc tế.

Việt Nam đã kí kết gần 60 hiệp định song phương về thương mại, hợp tác kinh tế thương mại, kĩ thuật với các nước, vùng lãnh thổ. Việc áp dụng Điều ước quốc tế được pháp luật Việt Nam quy định: (i) Đối với điều ước quốc tế về thương mại mà Nhà nước đã tham gia kí kết và phê chuẩn, chúng ta sẽ tuân theo những quy định trong điều ước quốc tế; (ii) đối với điều ước quốc tế mà Nhà nước chưa tham gia và chưa công nhận, chúng ta có quyền bảo lưu, không áp dụng những quy định trái với luật pháp luật pháp của Việt Nam.

3.3 Tập quán thương mại

Mặc dù hệ thống pháp luật nước ta không phải là hệ thống “Luật tập quán”, các án lệ không được coi là nguồn của pháp luật nhưng trong hoạt động kinh doanh, tập quán thương mại thường được áp dụng.

Pháp luật Việt Nam cũng có những quy định về việc áp dụng tập quán trong những trường hợp nhất định. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Điều 5, BLDS 2015).

Như vậy, tập quán là một nguồn luật bổ sung của pháp luật. Đây là giải pháp hợp lý bởi quy phạm pháp luật không thể bao quát hết được mọi trường hợp, do đó không phải quan hệ nào cũng có quy phạm pháp luật điều chỉnh.

Tập quán thương mại có thể được hiểu là những quy tắc cư xử, hoặc thói quen, được hình thành từ xa xưa, được thừa nhận một cách rộng rãi, trên một vùng lãnh thổ hoặc một lĩnh vực thương mại có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tập quán thương mại gồm:

  • Tập quán thương mại trong nước: “Là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất kinh doanh, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng”
  • Tập quán thương mại quốc tế: “Là thông lệ, cách làm lặp đi lặp lại nhiều lần trong buôn bán quốc tế và được các tổ chức quốc tế có liên quan thừa nhận”

Những tập quán thương mại quốc tế thông dụng nhất là:

  • Các điều kiện cơ sở giao hàng do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành (các bản INCOTERMS)
  • Bản Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniformes Customs and Practice – UCP) do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành.

Đánh giá chất lượng bài viết, bạn nhé!

chọn đánh giá của bạn

Đánh giá chất lượng bài viết, bạn nhé!

5.0

Hãy để lại câu hỏi của bạn bên dưới, chúng tôi sẽ trả lời TRONG 15 PHÚT

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0812 911119
Scroll to Top